Latest Post

Hiển thị các bài đăng có nhãn y hoc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn y hoc. Hiển thị tất cả bài đăng

TRÚNG GIÓ TÊ BẠI

Written By chuavuha on Thứ Ba, 6 tháng 3, 2012 | 16:41



(Trích trong ‘Tồn Tồn Trai Y Thoại’ của Triệu Ngạn Huy, Trung Quốc)
Một người cháu họ của tôi, năm 21 tuổi, sau khi uống rượu xong, đi ngủ, nhưng chẳng may trúng gió, toàn thân  đều tê dại, cấu véo chẳng biết đau, tuy vậy, ăn uống lại bình thường. Lúc đó, được cái may là có Ông Ngô Cúc Thông đang ở trọ nhà nó. Nó liền nhờ Ngô tiên sinh chữa trị. Ông liền  kê toa: Quế chi 20g, Bạch thược 16g, Cam thảo 12g, Sinh khương 3 lát, Đại táo 2 trái (tức là bài Quế Chi Thang). Sắc với 600ml nước, còn 200ml. Tiên sinh dặn phải nhịn cơm tối và khi đi ngủ, nếu thấy đói thì uống vào một chén (200ml) thuốc, rồi chờ một lát mới ăn cháo lỏng còn nóng, rồi trùm chăn lại nằm cho ra mồ hôi. Cháu tôi theo đúng lời dặn trên mà uống thuốc, tức thì từ đầu mặt cho đến chân, khắp cả người đều nhâm nhấp mồ hôi và những chỗ mồ hôi đã ra thì cào gãi đã có cảm giác. Qua hôm sau thì không còn tê dại nữa. Nếu chỉ biết dùng Quế Chi Thang nhưng không biết cách ăn cháo như đã nói trên thì làm sao mồ hôi ra được như thế, mà dù có ra mồ hôi, chắc cũng không thể mau lẹ và hoàn toàn như trường hợp của cháu tôi.

TIÊU CHẢY DO ÂM HƯ





(Trích trong ‘Chẩn Dư Cử Ngẫu Lục’ của Trần Đình Nho, Trung Quốc).
    Mùa đông năm Bính Thân, tôi tính rời Kinh đô thì vợ họ Trần bị tiêu chảy đã mấy tháng nay, mỗi ngày ỉa 5-6 lần. Thầy thuốc đến trước cho là do Tỳ thổ hư hàn, dùng Bạch  truật để bổ thổ, Phụ tử để hồi dương, Mộc hương để cầm ỉa. Tuy nhiên, bệnh đã không khỏi mà mặt lại nóng bừng, miệng khô, chân lạnh, ăn uống kém dần, đêm ngủ không yên. Mới xem qua, thấy giống chứng thượng nhiệt (trên nóng) mà hạ hàn (dưới lạnh), dương hư trọng chứng (chứng dương hư thể nặng). Xem mạch thấy ở 2 bộ thốn, mạch nhỏ gần như không có ở bộ quan và xích bên trái, mạch Nhu Trì, không có thần (thiếu thần), mạch ở bên phải lại Hoạt Sác có lực. Nhờ xem mạch tôi mới biết đó là chứng âm hư chứ không phải dương chứng. Tôi liền dùng Sinh địa thán (vị Sinh địa đốt thành tro) 40g, Hoài sơn (sao), Toan táo nhân, Đan bì, Bạch thược, Ngưu tất, mỗi vị khoảng 12g, Chích thảo, Sa nhân, Hoàng bá, mỗi vị 1 –2 g, Nhân sâm, Ổi cát căn (Cát căn nướng) mỗi vị 4g.
   Uống 1 thang, chứng ỉa bớt được 2/3, mạch tượng cũng đã hòa. Uống thêm 1 thang nữa, đêm đã ngủ được, miệng cũng hết khô. Uống tiếp 2 thang nữa thì ăn biết ngon, mặt hết phừng và chân ấm lại.
    Có người hỏi tôi tại sao có những chứng giả làm cho người ta có thể lầm như vậy ? Tôi đáp: Chứng này có thể ví như cây đèn dầu: Dương tức là ngọn đèn, âm là chất dầu để đốt. Mạch bộ quan xích ở bên phải là ngọn đèn, mạch bộ quan xích bên trái là chất dầu. Mạch phía bên phải có lực tức là ngọn đèn còn mạnh, mạch bên trái không có thần tức là chất dầu không đủ. Trước đây, vì dùng lầm những loại như Bạch truật, Phụ tử, có khác gì dầu sắp hết mà cứ khêu cho tim đèn lên, ngọn đèn ở trên càng cháy to thì dầu ở dưới càng cạn. Chỉ vì thấy giả tượng (phần biểu hiện ra bên ngoài) ở trên nhiệt (nóng) dưới hàn (lạnh) mà dùng các vị thuốc táo Tỳ (làm cho tỳ khô ráo), Bổ Hỏa, làm cho dầu khô cạn đi và đèn tắt, cả âm lẫn dương đều tiêu mất. Tôi dùng thuốc bổ Âm là để cho hợp với phần dương. Âm mà phục hồi thì dương có nơi nương tựa, do đó, các chứng đều hết, biểu hiện của mạch (mạch tượng) cũng điều hòa. Thế mới rõ là dầu đầy đủ thì ngọn đèn sẽ tự cháy sáng.
    Lại hỏi về cách dùng thuốc, tôi đáp: “Dùng thuốc không có thành pháp, phải tùy thời mà luận chứng, tùy chứng mà luận trị, thế thôi. Nếu noi theo cổ pháp (phương pháp của người xưa) thì đó không phải là dụng ý hợp thang Lục Vị Địa Hoàng với thang Bổ Trung Ích Khí đó sao ? Lấy ý Lục Vị Ích Âm làm chủ (vi quân), do đó, trọng dụng Địa hoàng; Bổ Trung Ích Khí là vị tá, do đó, phải bỏ Hoàng kỳ, vì trong thang thuốc có dùng vị Nhân sâm nên trong phương Lục Vị phải bỏ Sơn thù; trong đơn có Địa hoàng nên trong phương Bổ Trung Ích Khí phải bỏ vị Đương quy. Sợ rằng chân âm không giữ lại được nên phải thêm chút  ít vị Hoàng bá để giúp cho phần âm được mạnh (kiên cố). Sợ rằng thanh dương bị dồn xuống (hạ hãm) nên phải thêm vị Cát căn để thăng đề (nâng) nó lên, vì vị Cát căn vốn là một thánh dược chữa chứng tiết lỵ (tiêu chảy, kiết lỵ). Ngày xưa, ông Trương Thạch Ngoan trị các chứng hư tổn bằng bài Bổ Trung Ích Khí thường hay dùng vị Cát căn thay cho vị Thăng ma vì Thăng ma cũng như vị Sài hồ thường làm tổn đến chân âm, do đó, khi chân âm bị hư tổn không được dùng vị ấy (Thăng ma). Đó gọi là chút linh hoạt trong cách tạo ra phương thang vậy.

CAN KHƯƠNG




Tên thuốc: Rhizoma Zingiberis.
Tên khoa học: Zingiber officinalis (Willd) Rosc.
Bộ phận dùng: rễ củ.
Tính vị: vị cay, tính nóng.
Qui kinh:  Vào kinh Tỳ, Vị, Tâm và Phế.
Tác dụng: làm ấm Tỳ và Vị, trừ hàn. Phòng dương suy, làm ấm phế và trừ đàm thấp.  
- Hàn xâm nhập tỳ và vị biểu hiện như đau lạnh ở thượng vị và bụng, nôn và ỉa chảy: Dùng Can khương + Ngô thù du và Bán hạ.
- Tỳ và Vị yếu và hàn biểu hiện như đầy và chứng thượng vị và vùng bụng, buồn nôn, nôn, phân lỏng, kém ăn, mệt mỏi và mạch yếu, suy: Dùng Can khương + Bạch truật, Phục linh trong bài Lý Trung Hoàn.
- Dương suy biểu hiện như ra mồ hôi lạnh, các đầu chi lạnh, ra mồ hôi trộm, mạch chậm và yếu: Dùng Can khương + Phụ tử trong bài Tứ Nghịch Thang.
- Phế có đờm dạng hàn, biểu hiện như nghiến răng, hen, ho có đờm trong hoặc nhiều và cảm giác lạnh ở lưng phía trên: Dùng Can khương + Ma hoàng, Tế tân và Bán hạ trong bài Tiểu Thanh Long Thang.
Liều dùng: 3-10g.
Chế biến: Đào củ vào mùa đông. Loại bỏ rễ xơ, rửa sạch, phơi nắng và cắt thành lát mỏng.
Kiêng kỵ: Thận trọng khi dùng Can khương cho thai phụ.


A GIAO




Tên thuốc: Colla Asini.
Tên khoa học: Gelatinum Asini
A giao là keo chế từ da con lừa ( Equus  Asinus L. ). Thường A giao được làm dưới dạng miếng keo hình chữ nhật, dài 6cm, rộng 4cm, dầy 0,5cm, mầu nâu đen, bóng, nhẵn và cứng. Khi trời nóng thì mềm, dẻo, trời khô thì dòn, dễ vỡ, trời ẩm thì hơi mềm. Mỗi miếng nặng khoảng 20g. vết cắt nhẵn, mầu nâu đen hoặc đen, bóng, dính (Dược Tài Học).
Tính vị: Vị ngọt, tính bình.
Quy kinh: Vào 3 kinh Can, Phế, Thận.
Tác dụng: Tư âm, bổ huyết, an thai, dưỡng huyết, nhuận phế, chỉ huyết ( cầm máu).
Chủ trị: Trị huyết suy yếu, thổ huyết, băng huyết, các chứng ra máu.
Liều dùng: Ngày dùng 8 -  24g, uống với rượu hoặc cho vào thuốc hoàn, tán.
Bào chế:
Theo Trung Quốc:
* Chọn loại da già, dầy, lông đen. Vào mùa đông -  xuân ( khoảng tháng 2 -3 hàng năm, lấy da lừa ngâm vào nước 2-5 ngày cho mềm ra rồi cạo lông, cắt thành từng miếng mỏng ( để nấu cho dễ tan) . Nấu 3 ngày 3 đêm, lấy nước cũ ra, thay nước mới, làm như vậy 5-6 lần để lấy hết chất keo của da lừa. Lọc qua rây bằng đồng có lỗ nhỏ rồi khuấy với nước  lọc có ít phèn chua, chờ vài giờ sau cho các tạp chất lắng xuống , gạn lấy 1 lớp nước  trong ở trên và cô đặc lại. Trước khi lấy ra chừng 2 giờ thì thêm đường và rượu vào  ( cứ 600g da lừa thêm 4 lít rượu và 9kg đường ), nửa giờ trước khi lấy ra lại thêm dầu đậu nành cho đỡ dính (600kg thêm 1kg dầu). Đổ ra,để nguội, cắt thành phiến dài 10cm, rộng 4-4.5cm, dầy 0.8 - 1.6cm (Trung Dược Đại Từ Điển).
* Sao Với Cáp Phấn: Lấy chừng 1kg bột Cáp phấn cho vào chảo rang cho nóng rồi bỏ các miếng A giao vào rang cho đến khi A giao nở dòn không còn chỗ cứng nữa thì dùng rây ray bỏ bột Cáp phấn đi  (Trung Dược Đại Từ Điển).
* Sao Với Bồ Hoàng: Cho Bồ hoàng  vào chảo, rang nóng rồi cho A giao xắt mỏng vào, rang cho đến khi A giao nở dòn thì bỏ Bồ hoàng  đi (Trung Dược Đại Từ Điển).
* Ngâm với rượu hoặc  nấu với nước  cho tan ra (Đông Dược Học Thiết Yếu).
Theo kinh nghiệm Việt Nam:
Lấy khăn vải sạch lau cho hết bẩn, thái nhỏ bằng hạt bắp, cho vào chảo, sao với bột Cáp phấn hoặc  Mẫu lệ (20%) cho phồng đều (Phương Pháp Bào Chế Đông Dược).
Bảo quản: Để nơi khô ráo, tránh nóng, ẩm.
Kiêng kỵ:
+ Kỵ dùng chung với vị Đại hoàng (Bản Thảo Kinh Tập Chú ).
+ Vị ( bao tử ) yếu, nôn mửa: không dùng. Tỳ Vị hư, ăn uống không tiêu không nên dùng ( Bản Thảo Kinh Sơ).
+ Vị hư, nôn mửa, có hàn đàm, lưu ẩm, không nên dùng (Bản Thảo Hối Ngôn).
+ Tiêu chảy không nên dùng (Bản Thảo Bị Yếu).
+ Ngưòi Tỳ Vị hư yếu ( tiêu chảy, ói mửa, tiêu hóa kém...) không dùng  (Trung Dược Đại Từ Điển).
 
Support : Creating Website | Johny Template | Mas Template
Copyright © 2011. ledung - All Rights Reserved
Template Created by Creating Website
Proudly powered by Blogger